Skip to content
19/01/2011 / Ngo's blog

Ở NƠI SÓNG ĐUỔI NGƯỜI, NGƯỜI… CHẠY GIÓ(!)

Làng Sơn Hải, xã Phước Dinh, huyện Ninh Phước (Ninh Thuận) không xa lắm Phan Rang, cái thị xã đầy nắng gió vừa được lên thành phố loại 3 từ năm ngoái dẫu không có gì thay đổi về mọi mặt. Thế nhưng, có cảm giác Sơn Hải là nơi người ta đặt canh bạc của đời mình với gió và sóng. Những tháng sóng đuổi người, những mùa người trốn gió cứ lặp đi lặp lại, ngẫu nhiên mà như định mệnh.

          Tôi thực hiện bài viết này xong từ khá lâu, nhưng cứ lưu mãi trong dữ liệu của máy vi tính. Ngẫu nhiên cho đến khi lục lại tư liệu, thì bất chợt  nhớ ra. Cho đến giờ, cái cảm giác nắng chan chat da vẫn còn in đậm. Xuôi theo Quốc lộ 1A về phía Nam, từ thành phố Phan Rang – Tháp Chàm đi độ hơn 20 cây số, rồi rẽ ngoặc vào cái làng Chăm sầm uất, chạy thêm gần 20 cây số trên con đường vắng ngắt, ngai ngái mùi phân dê, cừu thì tới làng Sơn Hải. Ở Sơn Hải bấy lâu, người ta vẫn nói “giàu về làng, nghèo ra vịnh”. Vịnh được ám chỉ là vùng bãi Tràng và vũng Tròn. Đơn giản, ở vịnh không chỉ có chuyện cá, chuyện trồng rong mà còn những câu chuyện về số phận khác.

          Từ làng Sơn Hải, băng cái trảng cát dài hơn 4 cây số mới đến vũng Tròn và bãi Tràng. Nói băng qua trảng cát là nói đơn giản thế thôi, chứ ai đã nếm thử cái nắng ở Ninh Thuận như thế nào thì mới hiểu sự khủng khiếp của 4 cây số ấy. Nắng như đốt lửa trên đầu, hơi nóng phả xuống cát táp lên mặt, người không quen sẽ có cảm giác mình đang chịu cảnh nhục hình. Anh giáo viên người Chăm tên Hài, đang dạy môn Lịch sử ở trường THCS Nguyễn Tiện, ngôi trường “cao cấp” nhất làng Sơn Hải nói như an ủi “Cũng may là dạo này có đường Quốc phòng kéo dài gần vào vịnh, chứ như hồi vài năm trước muốn vào vịnh thì có khi ngất ngay trảng cát”.

           Băng qua bụi cỏ dại có hoa màu tím, nghe đâu loại cỏ này có công dụng chữa được bệnh ho, chúng tôi đến bãi Tràng vào giữa trưa, nắng như thiêu như đốt. Ở bãi Tràng, mùa này chuẩn bị có sóng, hầu như các căn chòi đã bỏ hoang vì ngư dân chạy sóng sang vũng Tròn. Dưới căn chòi còn sót lại ở bãi, vài người đàn ông với màu da sậm gió biển đang ngồi uống rượu chờ cơm. Phía bên trong căn chòi, hai phụ nữ tranh thủ lựa rong biển, mùa rong cuối cùng ở bãi trước khi họ chuẩn bị chạy sóng. Ông Phạm Văn Quắm, người được coi như là “cai tổng” của bãi Tràng ngồi buồn buồn nhìn sóng. “Sóng năm nào vào tháng này cũng khủng khiếp lắm, chú à! Vài bữa nữa tụi tui cũng dọn đồ xuống thúng để sang bên kia thôi. Bên này, hết kiếm cá được rồi”.

          Ông Quắm kể cái hồi vợ chồng ông mới lấy nhau ở Sơn Hải, có được hai mặt con thì nghèo quá nên lần hồi xuống bãi Tràng để kiếm cái ăn. Chủ yếu là đi thuyền thúng, lưới mực và cá gần bờ. Những đứa con liên tiếp ra đời trong cái cảnh sống tạm bợ ấy. Con trai lớn lấy vợ, gái lớn có chồng, ông bà đều tìm cách cho con rời ra bãi Tràng. Mà chính bản thân ông bà khi dành dụm được ít tiền, cũng đã mua nhà ở Sơn Hải, nhưng không hiểu sao, vẫn xuống bãi để bám trụ bằng nghề lưới, trồng rong biển và… bán hàng tạp hóa. Quầy tạp hóa vùng biển không thể lẫn vào đâu được, bởi mặt hàng chủ lực tại nơi này chỉ là rượu, bia và thuốc là loại nặng. Cậu con trai kế Út, người xăm vằn vện vừa đi lưới xong, tay xách một ít mực và cá nhỏ vào trong chòi đưa cho mẹ, miệng lẩm bẩm vì cái phao lưới bị đứt, buông một câu gọn lỏn “Đi thôi, hết cá ở đây mùa này rồi”

          Ông Quắm ở bãi Tràng đã hơn 28 năm ròng, cứ mỗi tháng 4 Âm lịch sóng dữ, gia đình ông lại bỏ lều sang vũng Tròn tạm cư vài tháng. Đến tháng 8, bên vùng Tròn gặp mùa gió nồm, cát bay như mưa sa, chịu không thấu thì lại lần hồi ngược về bãi Tràng. Đằng đẵng vài chục năm, chịu không thấu cái cảnh di cư như vậy, ông quyết định ở lại luôn trên bãi, mặc ai muốn chạy sóng sao thì chạy. Vợ con đi tránh sóng thì cứ đi, ông vẫn ở lại “nghênh chiến” một mình với sóng. Mà có “nghênh chiến” gì đâu khi cái mọi vật dụng trong cái liều đã được dọn đi, chỉ còn chừa lại cho ông cái giường ngủ ọp ẹp và một ít đồ dùng sinh hoạt. Có lẽ, ông là người duy nhất còn sót lại trên bãi Tràng vào tháng 4 AL hàng năm.

          Cả vùng bãi Tràng và vũng Tròn có địa hình như vòng cung, cái chân núi Dinh chìa ra biển tạo thành bức tường tự nhiên chia bãi và vũng thành hai phần riêng biệt, người ta quen gọi là Mũi Điện bởi có ngọn đèn hải đăng trên núi Dinh. Nhưng, bức tường tự nhiên ấy không kịp che cho những con người ở đây trọn vẹn các tháng trong năm. Anh Phạm Giáp, người ngồi uống rượu chung bàn với ông Quắm hôm đó nói, từ bãi Tràng sang vùng Tròn đi thúng mất khoảng 2 giờ đồng hồ nếu gặp mùa không sóng. Chứ mùa có sóng, thì không cách nào có thể di chuyển được. Thậm chí, có lúc sóng chồm vào cả bàn ăn vào giữa trưa. Kế căn chòi của ông Quắm, là căn chòi còn sót lại của người phụ nữ đứng tuổi, nhìn đăm đăm ra biển mặt không biểu lộ cảm xúc. Vợ ông Quắm nói với chúng tôi như can ngăn “Mấy chú đừng hỏi chị bên kia nha. Chị đang u uất trong người à, cứ nhìn sóng mà chờ chồng về hoài”.

          Người đầu tiên bỏ làng, dẫn vợ con xuống Mũi Điện sinh sống là ông Nguyễn Văn Tám, đó là năm 1977. Thời ấy, cả vùng bãi Tràng lẫn vũng Tròn đều bạt ngàn cát. Người ta cất chòi để đánh bắt thủy sản ra tận mép biển, nhưng rồi càng về sau, sóng ăn dần cát, những ghềnh đá xuất hiện. Chòi của ngư dân cứ thế lui vài sâu dần, sâu dần và người bỏ làng ra Mũi Điện cũng ngày một đông hơn. Cách đây khoảng mươi năm, có khoảng 40 hộ bám lì vào Mũi Điện để kiếm sống. Dành dụm được ít tiền, họ nhanh chóng di chuyển vào làng Sơn Hải, thế nên giờ chỉ còn khoảng 15 hộ ở lại Mũi Điện.

          Dọc theo trảng cát, chúng tôi từ bãi Tràng sang vũng Tròn để hiểu những người chạy sóng sang đây sinh sống như thế nào. Có nhiều căn liều ở vũng Tròn đã được dựng lên, nhưng chưa có người ở. Có khi, họ dựng để giữ chỗ trước, vậy thôi. Phía dưới các ghềnh đá, rải rác những đốm trắng của loại mút xốp giữ lưới để trồng rong. Loại rong này, trước đây được các cơ quan hữu quan của tỉnh Ninh Thuận khuyến khích người dân trồng nhằm ngăn chặn tình trạng phá rừng làm than. Rong tươi bán được khoảng 3 nghìn/kg, rong khô có lúc hơn 10 nghìn/kg, có khi được giá gấp đôi, rất vô chừng. Ở mỗi khoảnh rong kéo dài, được bao bọc bằng lưới cá, mỗi hộ nuôi rong tại nơi này thu được vài chục tấn là bình thường. Nhưng, khoan hay nhẩm tính số tiền họ thu được sau mùa rong. Hãy tính trước về khoản nợ mà họ đã vay để nuôi rong sẽ hiểu được vì sao chỉ có “dân không tiền mới ra vịnh”.

          Anh Nguyễn Quang Hợp, người kế thừa “sự nghiệp chạy sóng” của cha mình là ông Nguyễn Văn Tám, ngồi trong chòi nhẩm tính đã có bao nhiêu hộ rời vũng Tròn về trên làng. Anh Hợp sinh ra ở vũng Tròn này, học đến lớp 6 thì nghỉ học ở nhà làm nghề lưới. Đoan chắc rằng, anh là người có học vấn cao nhất ở nơi này. Hợp sinh năm 1981, đã kịp kết hôn cách đây 8 năm và có 3 mặt con. Sợ con mình thất học, ngay khi vừa dành dụm đủ tiền, anh cho vợ con về làng ở, còn mình ở lại trồng rong. Thỉnh thỏang, chạy tạt vô làng  thăm vợ con rồi lại chạy ra ngay.

          Anh ngồi nhẩm tính, ở bãi Tràng cứ vào các ngày 2, 4 hoặc 16 – 3 Âm lịch là phải lo chạy sang vũng Tròn để tránh sóng. Những người ở lại mà chúng tôi gặp được hôm này là những người tiếc vụ rong cuối, nên ở lại để kiếm được chút gì thì kiếm. “Sóng đuổi mình vô chừng lắm, không nói trước được đâu. Nhưng có điều, chắc chắn là rất khủng khiếp”, anh Hợp nói. Ở vũng Tròn này, được khoảng 4 tháng, tầm 20-7 Âm lịch, vừa kịp xong hơn một vụ rong là phải nhanh chóng gói gém đồ đạc chạy sang bãi Tràng lại, nếu không muốn hứng phải những cơn gió cát như cuồng nộ. “Gió cuốn cát từng chặp, từng chặp rưới lên mặt mình. Nếu chưa kịp di cư, khi ăn cơm là phải buông mùng, rồi ngoài màng phủ thêm một tấm mền, vợ chồng con cái mới có thể yên tâm ngồi trong màn mà ăn được. Còn không, cứ ăn cơm trộn chung với cát”, anh Hợp kể.

          Chúng tôi nói đùa rằng anh cũng nhanh, năm nay chưa tròn 30 mà đã đuề huề con cái. Anh giải thích là ở đây nó vậy, buồn lắm. Chẳng có gì để giải trí, trai gái yêu nhau đêm đêm nắm tay dắt ra ghềnh đá tâm sự, rồi chuyện gì đến cũng đến. Muốn vào làng coi tivi ké thì phải chịu khó mang theo cái chiếu, coi xong chương trình tivi, trên đường về nhiều khi mệt quá, trải chiếu rồi nằm lăn ra ngủ luôn. Sống ở bãi hay sống ở vũng vốn quy định vậy. Mà có thời, gia đình nào ra vùng Mũi Điện sinh sống cũng phải cố sống cố chết để sinh con, Có càng nhiều con càng tốt, cáng nhiều con càng mau thoát nghèo để có thể vào làng được. Người ta suy tính đơn giản, đông con thì đi biển sẽ được lợi hơn vì có thêm nhân lực.

          Ở ngoài làng, mà có khi là ở cả ngoài phố, người ta cứ đồn là ở bãi hoặc vịnh dễ kiếm tiền lắm. Đi lưới mỗi ngày có khi được vài trăm nghìn hoặc tiền triệu là bình thường. Nhưng sự thật, tiền đâu đơn giản là thả lưới xuống biển rồi kéo lên. Ở Mũi Điện, người ta phải đánh đổi nhiều thứ để có tiền. Nhìn những căn chòi hoang còn sót lại trên ghềnh đá ở vũng Tròn hoặc trên bãi cát ở bãi Tràng mới thấy xác xơ và hắt hiu đến dường nào. Chưa kể đến chuyện, những đứa trẻ được ra đời bởi “buồn quá không có gì giải trí” ở cái vùng Mũi Điện này còn phải chấp nhận một thực tế đáng buồn khác – sự thất học.

          Nguyễn Văn Lụm, 16 tuổi nằm vắt vèo trên cái võng trong căn chòi tạm nhìn cái máy chụp ảnh của chúng tôi cứ xì xầm bàn tán chuyện “Nhà báo thì làm gì ta?” với anh Lụm là Nguyễn Văn Rợ. Lụm hiền khô, không biết mình tên thật là gì, vì cha mẹ thấy Lụm khó nuôi, cứ đổi tên cho em liên tục đổi đến lúc chính họ cũng không nhớ và cuối cùng gọi em là Lụm. Lụm không đi học, Rợ cũng không đi học. Hỏi gì cũng lắc đầu “Không biết đâu, không biết đâu”. Mà cũng chẳng phải chỉ có Rợ và Lụm không biết mặt chữ, 3 chị em khác còn lại trong nhà cũng không biết chữ. Vợ của anh Hợp là chị Nguyễn Thị Thoa, cũng là dân sinh ra ở trên vịnh. Chị Thoa cũng không biết chữ như Lụm và Rợ. Chúng tôi nhớ, anh Hợp nói cho con cái vào làng là để tụi nó được đi học, chứ không sau này lớn lên, tụi nó trách mình thì mình chẳng còn biết đường nào mà sống. Ít lắm, những người bám vịnh kiếm sống có suy nghĩ “tiến bộ” như anh Hợp. Người ở vịnh, được sinh ra và cứ lớn lên, hướng ra biển rồi lại lấy vợ, lấy chồng. Vậy là xong.

          Gần cái chòi của Lụm, là cặp vợ chồng trẻ hỏi gì cũng bẽn lẽn, đáp đi đáp lại rằng “Khổ thì mới ra đây chứ, anh. Có tiền ở trong làng vui hơn”. Trong căn chòi tạm ấy, trên kệ để vài chai nước tương, phía dưới là bịch gạo áng chừng dăm ký. Một cậu nhóc nằm ngay ngắn trong cái nôi được làm bằng vải dù, thêm một thế hệ kế tiếp ra đời trên vũng Tròn.

          Trên đường về lại làng Sơn Hải, anh Hài nói với chúng tôi điều mà anh trăn trở từ khi về dạy ở vùng này là có những em mới từ lớp 5 lên lớp 6 thì đột ngột nghỉ học. Thương học trò, thấy cô lặn lội đến từng nhà để vận động phụ huynh cho con em đi học lại. Đáp lại sự tận tình đó, các thầy cô thường nhận được câu hỏi mà chính họ cũng không thể tìm được câu trả lời tối ưu nhất “Con tui học đến lớp 6 nghỉ đi biển. Học đến lớp 9 cũng nghĩ đi biển. Vậy thì mắc gì cho nó phí vài năm đi học tiếp rồi cuối cùng cũng sẽ lại đi biển, đúng không?”.

          Khi mà câu hỏi ấy vẫn ám ảnh những ngư dân chăm chăm vào biển để kiếm sống, có thể họ chưa bao giờ nghĩ đến một ngày, thế hệ kế cận sẽ được rời khỏi vùng biển này. Thì băng qua trảng cát kia, dưới bãi Tràng và vũng Tròn, 15 hộ dân kiên quyết bám mặt vào vịnh vẫn đang loay hoay nhẩm tính ngày trốn sóng, chạy gió.

          Ở căn chòi của đôi vợ chồng trẻ, trong cái võng dù, một cậu nhóc biết đâu sẽ lại ra kiếm sống ngay trên cái vịnh này như là minh chứng cho câu cửa miệng của vùng Sơn Hải “Giàu ở làng, nghèo ra vịnh”.

                                                                             PHAN GIA (Bài đã đăng CSTC).

%d bloggers like this: